Duyên
Thích Như Tú
Nhân dịp năm mới, xin chia sẻ bài thơ lục bát trong dịp khai bút đầu xuân Bính ngọ.
“Đủ duyên đến, thiếu duyên đi
Nơi nào ta ở, nhớ tùy thuận theo.
Niềm vui hỷ lạc tự gieo
Tránh điều não hại, đừng neo vào mình.
Về chùa xin đọc câu kinh
Để tâm rèn luyện tánh linh đôi chiều.
Viên Minh nào có giáo điều
Tự mình giữ lấy, những điều thầy răn.”
Mặc Nhiên
Bài thơ chỉ muốn một lời nhắc nhở Phật tử tu tập bình thường giản dị mà sâu sắc trong tâm thức. Chúng ta cũng thường nghe đâu đó câu nói của Thiền sư Nam Tuyền, “Bình thường tâm thị đạo”. Vì tâm của chúng ta luôn chạy theo hoàn cảnh thuận duyên và nghịch duyên. Nơi nào vừa ý thì liền yêu thích hay ngược lại.
Tuy nói rằng, sống tùy duyên. Nhưng thực tế phải hiểu là tùy duyên mà không hề buông xuôi, nuôi dưỡng hỷ lạc từ bên trong, tránh gây não hại cho mình và cho người, nương nơi tự thân để rèn luyện cái tâm rong ruổi như ngựa chạy đồng nội, như khỉ chuyền cành. “Tâm viên ý mã”. Khi được tiếp nhận lời thầy dạy nhưng không chấp vào giáo điều. Mỗi câu thơ mở ra một nếp sống an trú giữa dòng đời biến động.
Câu thơ đầu:
“Đủ duyên đến, thiếu duyên đi.
Nơi nào ta ở, nhớ tùy thuận theo.”
Trong thơ đề cập đến chữ duyên. Duyên đến và duyên đi. Vậy “Duyên” là điều kiện hội đủ để sự việc sinh khởi. Khi duyên hết, việc tan. Đó là nguyên lý vô thường và nhân duyên trong lời Phật dạy. Hay tổ Quy Sơn cũng có sách tấn, “Giả sử bách thiên kiếp, sở tác nghiệp bất vong, nhân duyên hội ngộ thời, quả báo hoàn tự thọ”, (có nghĩa là cho dù trải qua trăm ngàn kiếp, nghiệp đã tạo thì không bao giờ mất, khi nào nhân duyên hội đủ, thì sẽ nhận lấy quả báo).
Đại sư Tinh Vân cũng thường giảng, “Phật giáo thường nói về “nhân duyên hòa hợp” và ngài đưa ra tám duyên:
“第一、你我相識就是有緣。
第二、面帶笑容廣結人緣。
第三、布施歡喜給人善緣。
第四、你對我錯要能惜緣。
第五、損我逆我要消孽緣。
第六、生老病死能了塵緣。
第七、果報好壞皆是因緣。
第八、慈悲喜捨修成佛緣.”
(Tạm dịch:
1. Bạn và tôi gặp nhau là có duyên.
2. Luôn mỉm cười để kết giao nhân duyên rộng rãi.
3. Bố thí vui vẻ sẽ mang đến duyên lành cho người khác.
4. Khi bạn đối với tôi lầm lỗi, cần nên quý trọng duyên.
5. Người hại tôi, hay ngược đãi tôi, tôi sẽ tiêu trừ ác duyên ấy.
6. Sinh – lão – bệnh – tử có thể đoạn tận trần duyên.
7. Quả báo tốt xấu cũng đều là nhân duyên.
8. Từ bi, hỷ xả tu hành sẽ thành duyên Phật).
Đại sư nói, “Trong vũ trụ, thế gian và con người đều luôn tồn tại dựa trên sự kết hợp của nhiều điều kiện khác nhau, chúng có mối quan hệ hỗ tương với nhau. Một khi thiếu duyên, thì mọi việc sẽ khó có thể thành tựu, vì vậy duyên rất quan trọng. Hiểu được cách nuôi dưỡng duyên lành, thì vận may cũng sẽ theo đó mà đến”.
Hay đôi khi chúng ta cũng thường nghe hai chữ “tùy thuận” nhưng tùy thuận không phải chiều theo mọi thứ, mà là biết thuận theo thực tại đang có, khéo thích nghi để giữ bình an trong tâm hồn và trí tuệ sáng suốt. Khi biết sống tùy thuận thì vui buồn, được mất, hơn thua cũng chỉ như áng mây, thương ghét cũng chẳng nặng lòng. Biết sống vị tha hơn. Và đây cũng là cách phương tiện.
Trong Phật giáo Đại thừa có một thuật ngữ rất quan trọng xuất phát từ gốc Phạm văn (Sanskrit) là upāyakauśalya, theo Giáo sư Đỗ Quốc Bảo viết trong lời nói đầu của dịch bản “Những Câu Hỏi Lớn Về Triết Học: So Sánh Sự Tiếp Cận Của Phật Giáo Và Tây Phương do nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội năm 2025”, ông xác nhận rằng, “thuật ngữ này được các dịch giả Trung Quốc dịch rất chính xác là “phương tiện thiện xảo”. Nhưng phương tiện không phải là pháp phương tiện mà là người áp dụng hoặc dùng phương tiện. Vậy người áp dụng những phương tiện này một cách khôn khéo chính là một vị Bồ-tát trong Đại thừa Phật giáo”.
Trong đời sống, công việc có lúc hợp lúc không, quan hệ có lúc thắm lúc phai. Hoa nở rồi tàn. Nếu biết “đến thì chào, đi thì tiễn” giúp ta bớt khổ vì chấp thủ, đồng thời mở ra cơ hội mới. Người biết tùy duyên sẽ học hỏi rất nhiều, điều chỉnh tâm trạng, không cố chấp không câu nệ mẫu cũ. Vì thế sẽ giảm bớt mâu thuẫn, tăng hiệu quả và hạnh phúc hơn.
Câu thơ tiếp:
“Niềm vui hỷ lạc tự gieo.
Tránh điều não hại, đừng neo vào mình.”
Hỷ lạc là niềm an vui thực tại trong năm thiền chi (Tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm), do ta vun trồng, chăm sóc bằng chánh niệm, tỏ sự biết ơn, tử tế giao tiếp, không lệ thuộc hoàn cảnh, uyển chuyển trong mọi tình huống.
Còn “não hại” là một trong những căn bản tùy phiền não trong Bách Pháp Minh Môn Luận, là trạng thái tâm bất ổn, là những gì gây rối loạn, làm tổn thương thân tâm (tham, sân, si là độc hại, là thói quen xấu). Cho nên hằng ngày chúng ta phải “đừng neo vào mình” tức là phải quay về điểm tựa trong nội tâm như hơi thở, giới hạnh và trí tuệ. Thực tập thở chánh niệm vài phút mỗi ngày, hoặc viết nhật ký biết ơn, sử dụng Tứ nhiếp pháp trong cuộc sống như nói lời ái ngữ…để giúp tăng năng lượng an lạc nội sinh. Nhiều nghiên cứu hiện nay cho thấy rằng, chánh niệm trong hiện tại sẽ giảm căng thẳng và lo âu. Ngược lại, các phiền não như đố kỵ, san tham, siễm nịnh, nói dối sẽ phát sinh độc hại làm tâm trí của chúng ta có cảm giác bất an, hệ lụy dài lâu. Nếu biết chánh niệm quay về tự thân, chúng ta sẽ được bình ổn, mặc nhiên trước những sự khen chê.
Câu thơ tiếp:
“Về chùa xin đọc câu kinh.
Để tâm rèn luyện tánh linh đôi chiều”.
Đọc kinh là tiếp xúc với giáo pháp Phật đà như phương tiện soi đường, dẫn lối. Tất cả đều là phương tiện để đi đến cứu cánh và giải thoát. Hòa Thượng Thích Trí Quảng cũng từng nói: “Ta đọc kinh, trong đó chỉ có hạnh Phật và Bồ-tát, nên không đụng chạm đến ai và đem Phật, Bồ-tát vô lòng thì nói ra cũng nói lời Phật, Bồ-tát. Như vậy là tu khẩu nghiệp, không làm mất lòng ai”.
Còn “Tánh linh đôi chiều” mà Mặc Nhiên nhắc đến, chúng ta có thể hiểu là rèn luyện cả hai đức tính từ bi và trí tuệ, học và hành, định và tuệ. Pháp học có thể nuôi dưỡng sự hiểu biết, pháp hành có thể chuyển hóa thói quen, tức là thường nghiệp hằng ngày. Nên trong Pháp ngữ của Hòa thượng Phương Trượng Thích Như Điển có câu số 240: “Sự học không giúp mình giải thoát được, nhưng muốn mở cánh cửa giải thoát, không thể thiếu sự tu và sự học”. Và trong Thi hóa Tư tưởng của Dhammapala do Phạm Thiên Thư thi hóa ra Việt ngữ câu 18-19 như sau:
“Dù trì kinh nghìn tạng,
chẳng tu niệm y lời,
như hái hoa thả suối,
hoa trôi, ích chi người”.
“Kinh tụng như mưa bay,
tâm thể nghiệm chánh pháp,
đời này hay cõi khác,
tự tại giữa vần xoay”.
Người chỉ đọc mà không hành sẽ dễ rơi vào lý thuyết suông, người chỉ hành mà thiếu học dễ bị sai lệch. Vậy, kết hợp nghe pháp, tụng kinh, thiền tập, làm việc thiện…giúp tâm mình được huân tập đều đặn, bớt cực đoan. Chúng ta cũng đừng nên hiểu sai lầm về lời dạy của Tổ Bồ Đề Đạt Ma khi sang Trung Quốc, “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”.
Câu thơ tiếp theo:
“Viên Minh nào có giáo điều.
Tự mình giữ lấy, những điều thầy răn.”
Chùa Viên Minh ở tại làng Nebikon Thụy sĩ được nhị vị trưởng lão Hòa thượng Thích Bảo Lạc và Hòa thượng Thích Như Điển đặt tên là Viên Minh. Hòa thượng Thích Bảo Lạc còn đề tặng hai câu đối như sau:
“Viên mãn hạnh nguyện dắt dìu bao thế tục.
Minh liễu bồ-đề nhiếp phục khắp quần sanh”.
Viên Minh có thể hiểu nghĩa trí tuệ viên mãn, ánh sáng tròn đầy của sự giác ngộ. Cảnh giới ấy không giam mình trong giáo điều cứng nhắc. Nhưng “không giáo điều” không có nghĩa là vô nguyên tắc. Nền tảng vẫn là tự giác, vẫn là giữ gìn Thanh quy, sống đúng lời thầy đã dạy. Giới như chiếc thuyền đưa người qua sông, nếu bám chấp chiếc thuyền thành giáo điều thì bị kẹt, nhưng nếu bỏ thuyền giữa dòng thì bị chìm đắm. Người thực học biết ứng dụng linh hoạt phương tiện, song vẫn kiên cố ở cốt lõi đạo đức học Phật giáo như “không sát hại chúng sanh, không trộm cắp, không tà hạnh, không nói dối, không nghiện nhiễm”. Nhờ vậy tự do mà không buông lung.
“Tùy duyên” không phải là phó mặc cho số phận, nhưng đó là chủ động phương tiện thích nghi trong những gì có thể đổi, và an nhiên với điều không đổi được. Vì duyên tụ hay tan đều phụ thuộc vào nhân ta tạo. “Không giáo điều” không có nghĩa là phải phá bỏ khuôn phép, mà đó là nương nguyên tắc đạo đức, thanh quy thiền môn nhưng vận dụng linh hoạt theo hoàn cảnh. “Tự mình giữ lấy” không có nghĩa là vị kỷ, mà trái lại phải tự chịu trách nhiệm để không làm khổ mình, khổ người và khổ cả hai.
Bài thơ trên như đã gói trọn một pháp học và pháp hành, sống đẹp trong cuộc sống. Tùy duyên mà không buông xuôi, dưỡng nuôi hỷ lạc nội tâm, tránh não hại, nương tự thân, học và hành cân bằng, giữ giới với tinh thần không chấp. Ứng dụng được như vậy, ta có một chiếc la bàn đạo đức Phật giáo cao hơn và tâm thái bình an giữa biển đời biến động.
“Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến”.
Thích Như Tú

