Hôm nay, dưới cội Bồ-đề, chúng con thành tâm tưởng niệm ngày Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni thành đạo.

 Cung kính nghe rằng, bậc xuất trần thượng sĩ đúng thời thị hiện, chúng sanh hữu duyên liền cảm ứng. Ngài đã từng xuất hiện nơi địa ngục A-tỳ để bắt đầu cuộc đăng trình chuyển hóa, ngay lúc ấy đã phát lộ tâm bô-đề hóa độ quần mê.

Sự kiện thành đạo của Thái tử Tất-Đạt-Đa năm xưa không chỉ mở ra một kỷ nguyên chánh pháp giữa đời thực mà còn là hạnh nguyện lớn lao trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp của bậc Đại sĩ. Từ nơi địa ngục A-tỳ cho đến cung trời Đâu-suất, từ vườn Lâm-tỳ-ni cho đến Bồ-đề Đạo-tràng, từng chặng đường đi qua đã đều hiển lộ tâm bồ-đề trong sáng và trí tuệ vô thượng.

Thành đạo không chỉ là một khoảnh khắc lịch sử, mà như là một mặt trời trí tuệ chiếu khắp mười phương, là dòng suối ngọt ngào làm mát dịu tâm can của chúng hữu tình, mở lối giải thoát ngay trong đời này.

Theo truyền thống Đại thừa, Đức Phật là vị Bồ-tát phát tâm từ vô lượng kiếp, đã từng vào chốn khổ đau, kết duyên lành nguyện độ hết thảy chúng sinh. Ba a-tăng-kỳ kiếp ấy là quá trình tu hành viên mãn các Ba-la-mật. Nhờ thắng duyên đã thuần thục, Bồ-tát quán cõi Diêm-phù-đề, chọn giáng trần nơi dòng tộc Thích-ca, tại vương thành Ca-tỳ-la-vệ.

Đản sanh

Tứ Thiên Vương thường theo hộ vệ, Bồ-tát thác thai nơi hoàng hậu Ma-da, trụ thai bằng chánh niệm thanh tịnh. Ngài đản sanh tại vườn Lâm-tỳ-ni, có bốn mùa hoa nở, chim hót vang muôn âm điệu, đất trời giao cảm. Tương truyền nơi ấy có sen hồng nở rộ nâng gót ngọc, nước thiên hiển lộ hai dòng ấm, lạnh. Thân sơ sanh của Bồ-tát ứng hiện ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp tuỳ hình, báo điềm đại nhân.

Từ nơi Hương sơn, Ngũ thông Phạm tiên A-tư-đà xem tướng đã toát lên vẻ kinh ngạc, rồi ông buồn tủi khóc than, khóc vì không còn đủ thọ mạng để chờ đợi được chiêm ngưỡng bậc vĩ nhân thành đạo, vì sẽ phải sinh lên cõi trời Vô tưởng không được nghe Phật thuyết pháp.

Thuở Ấu thơ

Trong ngày vui của lễ hạ điền, Thái tử điềm nhiên nhập sơ thiền dưới bóng cây, biểu thị căn lành thiền định sâu dày.

Đến tuổi thành niên, dầu đầy đủ vinh hoa phú quý, cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con ngoan, Bồ-tát vẫn thao thức trước cảnh khổ đau của nhân thế. Lần nọ, ra bốn cửa thành, Ngài thấy hiện tượng lão, bệnh, tử, và hình ảnh của một vị sa-môn an nhiên. Hạt giống ươm mầm giải thoát bao lâu dường như nay đã được đủ duyên bừng nở. Ngài quán xét bản chất vô thường, khổ, vô ngã của đời sống, từ bỏ ngũ dục, cắt ái ly gia, vào rừng sâu cầu đạo.

Khổ hạnh

Trong lâm viên khổ hạnh, Bồ-tát tu ép xác đến tột cùng, thân thể gầy mòn, kiệt sức nhưng không đắc đạo, chỉ uổng công nhọc sức. Ngài liền nhận thấy rằng khổ hạnh cực đoan không đưa đến giải thoát. Khi ấy, có một thiên tử biết được ý của ngài nên liền đến nhà mách bảo con gái của trưởng thôn Thiện Sanh dùng sữa bò nấu cháo sữa mật dâng cúng cho Bồ-tát. Theo Pháp Uyển Châu Lâm ghi lại: Lúc bấy giờ, có một thầy tướng giỏi đi đến, thấy nồi cháo sữa xuất hiện các hình tướng lạ lẫm như thế, bèn nói: “Thật hi hữu! Ai ăn cháo sữa này chẳng bao lâu sẽ chứng được diệu dược Cam lộ”.

Sau khi thọ nhận, thân tâm điều hòa, Ngài thả bát xuống dòng sông Ni-liên-thiền, bát trôi ngược dòng, điều này như chí nguyện vượt nghịch lưu phiền não “nhập dòng vô sanh”, và cũng là hướng tu Trung đạo, tránh cả hai cực đoan hưởng dục và khổ hạnh.

“Năm xưa chiếc bát ngược dòng

Trôi vào lịch sử nhập dòng vô sanh”. MN

Thành đạo

Thời gian trước khi thành đạo, đức Phật đã trải qua những lối tu khổ hạnh, ngỡ rằng lối tu này sẽ đưa đến giải thoát cho mình, cho người và mọi loài chúng sanh. Tuy không mang đến kết quả như mong đợi ban đầu, nhưng cũng nhờ trải nghiệm sáu năm đó, ngài đã tuệ tri và phân loại các tư tưởng, tâm thức vọng niệm liên hệ đến các tham dục, sân nhuế và tàn hại do vô minh khởi lên khiến hại mình, hại người và hại cả hai nên ngài đã từ bỏ. Và thay vào đó, đức Phật đã nỗ lực chuyên cần, tinh tấn làm cho tăng trưởng các trí tuệ và liễu tri Niết-bàn.

Kinh Bản Duyên ghi lại, Ngài ngồi kiết già nơi Bồ-đề Đạo-tràng, phát nguyện: “Dù thịt nát xương tan, nếu chưa chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, quyết không rời chỗ này.” Ma quân khuấy nhiễu bằng dục lạc, sợ hãi, nghi ngờ. Ngài an trú chánh niệm, dùng trí tuệ nhiếp phục và bắt Ấn địa xúc để biểu trưng cho chân lý bất động. Đêm ấy, Ngài chứng ba minh:

Túc mạng minh là thấy vô số đời quá khứ, nhân quả không sai.

Thiên nhãn minh là thấy sinh diệt của chúng sinh tùy nghiệp duyên.

Lậu tận minh là đoạn tận các lậu hoặc, chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Cùng lúc, Ngài thấu rõ Tứ thánh đế và Duyên khởi: cái khổ, nhân khổ, sự chấm dứt khổ, và con đường diệt khổ; cũng như mười hai nhân duyên vận hành như một bánh xe không tự ngã. Ánh sáng trí tuệ ấy từ đây chiếu khắp ba cõi.

Chuyển pháp luân tại Vườn Lộc Uyển

Sau bảy tuần an trú thiền định quanh cội Bồ-đề che nắng che mưa, Đức Phật hướng về Lộc Uyển, thuyết pháp đầu tiên độ cho năm anh em Kiều-trần-như cho đến độ nhóm thanh niên Da-sá, huynh đệ Ca-diếp, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên….

Bài kinh Chuyển Pháp Luân là lời khai thị để mở đầu cho Tăng đoàn. Các vị dự Pháp hội ấy đã lần lượt chứng quả, đánh dấu sự hiện diện của Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng, làm ruộng phước vô thượng cho đời. Thanh thế Phật pháp càng ngày lan rộng, khiến cho hai mươi tám vị thiên chủ và mười sáu quốc vương một lòng hướng về đạo giải thoát.

Ý nghĩa giáo pháp

Con đường của Phật đi là con đường an lạc và liễu sanh thoát tử. Sau khi thành đạo dưới cội Bồ-đề, ngài đã phương tiện chỉ lại cho hàng chúng sanh phương pháp thực chứng ấy bằng ngôn ngữ tượng trưng của thế gian. Vậy, tập hợp tất cả các lời mà ngài đã dạy từ kim khẩu, nên gọi là kinh. Cho nên kinh là con đường chánh trí an lạc đưa chúng sanh đến bờ giải thoát và giác ngộ.

– Trung đạo: Tránh hai cực đoan hưởng lạc và khổ hạnh.

Tứ đế và Bát chánh đạo: Một lộ trình thực tiễn, từ chánh kiến đến chánh định, đoạn tận gốc rễ khổ đau.

Duyên khởi: Không gì tồn tại độc lập, hiểu duyên khởi là tháo gỡ được chấp thủ và nuôi dưỡng từ bi.

Ba minh, ba độc và ba học: Trí tuệ đoạn tận tham, sân, si; lấy giới, định, tuệ làm cốt lõi.

Từ bi và phương tiện: Trí tuệ không rời tình thương; giáo pháp uyển chuyển tùy căn cơ.

Ngày vía Thành đạo và sự tu tập

Tại Việt Nam, ngày mùng 8 tháng Chạp âm lịch là tổ chức ngày vía Đức Phật Thích Ca thành đạo. Ý nghĩa không chỉ ở nghi lễ, mà ở sự phát nguyện hiện thực hóa giáo pháp của Phật trong đời sống thường nhật.

– Sám hối và phát nguyện: Quán chiếu lỗi mình, dứt ác làm lành, nguyện học theo con đường Trung đạo.

– Giữ giới và chánh niệm: Ít nhất một ngày trai giới; nuôi dưỡng chánh niệm trong tứ oai nghi, đi, đứng, nằm, ngồi.

– Thiền tọa và quán chiếu: Thực tập hơi thở, quán vô thường, khổ, vô ngã, nhìn sâu vào gốc rễ khổ đau.

– Bố thí và phụng sự: Cúng dường Tam bảo, trợ duyên học pháp, giúp đỡ người khó khăn, bảo vệ môi trường sống…

– Học pháp và chia sẻ: Tụng kinh, thảo luận Phật pháp, bàn luận pháp nghĩa với tinh thần khiêm cung.

– Nuôi lớn từ bi: Thực hành ái ngữ, lắng nghe, hóa giải hiềm hận; mở lòng với mọi loài.

Thành đạo không phải chuyện của quá khứ, mà là động lực hiện tiền, mỗi người đều có khả năng giác ngộ thành Phật. Đức Phật dạy, làm thế nào để nhận ra khổ có mặt, con đường chấm dứt khổ cũng có mặt. Trí tuệ là ngọn đèn. Từ bi là hơi ấm. Học theo Ngài là rửa sạch ái nhiễm, tẩy trừ vô minh, để mỗi suy nghĩ, lời nói, hành động đều trở thành hương sen trong bùn lầy cuộc sống.

Từ đêm thành đạo dưới cội Bồ-đề, mặt trời trí tuệ đã soi chiếu thế gian.

Từ vườn Lộc Uyển, bánh xe chánh pháp đã chuyển.

Chúng con đảnh lễ bậc Thầy của trời người: Thân giáo, khẩu giáo, ý giáo của Phật đã lưu lại trong ba tạng thánh điển là suối nguồn bất tuyệt.

Nguyện nương bóng Đại giác, học hạnh Trung đạo, trau dồi giới, định, tuệ, đem an lạc đến cho mình và người. Nguyện mỗi ngày đi, đều là một bước đi trên con đường thành đạo ngay trong đời này, ngay trong phút giây này.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Thiện Như

fb-share-icon10